- Việt Nam giảm 90% giá phổ tần 5G sau cuộc đấu giá thất bại năm 2023
- Triển khai 30.000 trạm gốc trong 12 tháng.
- Indonesia, Pakistan và Bangladesh chuẩn bị đấu giá hàng tỷ USD
Cách tiếp cận giảm giá phổ tần của Việt Nam đang buộc Châu Á-Thái Bình Dương phải tính toán: khi cơ quan quản lý viễn thông Hà Nội giảm tới 90% giá đấu giá phổ tần 5G sau thất bại trong đấu thầu năm 2023, các nhà quan sát trong ngành đã dự đoán sẽ có sự hỗn loạn. Thay vào đó, các nhà khai thác đã triển khai hơn 30.000 trạm gốc trong một năm.
Trong khi Indonesia và Thái Lan thu về hàng tỷ đô la thông qua đấu giá phổ tần – với chi phí vượt quá 10% doanh thu của các nhà khai thác – thì Việt Nam lại làm ngược lại, giảm giá tới 90% và trợ cấp cho việc xây dựng mạng lưới. Kết quả là đến tháng 12 năm 2025, Viettel đã đạt được 90% vùng phủ sóng 5G toàn quốc, mốc thời gian mà các thị trường trưởng thành phải mất từ ba năm trở lên mới đạt được.

Canh bạc này hiện đang thu hút sự chú ý từ các cơ quan quản lý đang chuẩn bị đấu giá phổ tần trong khu vực, mặc dù liệu họ có từ bỏ việc tối đa hóa doanh thu hay không vẫn chưa chắc chắn.
Thất bại trong đấu giá đã trở thành đổi mới chính sách như thế nào
Cục Quản lý Tần số Vô tuyến (ARFM) đã không lên kế hoạch cho một cuộc cách mạng khi cuộc đấu giá phổ tần đầu tiên của Việt Nam thất bại vào năm 2023. Băng tần 2,3 GHz không có giá thầu – giá khởi điểm đơn giản là quá cao đối với các nhà khai thác đang phải gánh khoản nợ do thua lỗ trong thời kỳ đại dịch.
Những gì xảy ra tiếp theo đã tách Việt Nam ra khỏi các nước trong khu vực. Thay vì điều chỉnh giá một chút hoặc đổ lỗi cho các nhà khai thác thiếu tham vọng, ARFM đã tiến hành đánh giá điểm chuẩn toàn diện tại các thị trường APAC. Kết luận là nếu Việt Nam muốn có cơ sở hạ tầng 5G thì giá phổ tần phải thay đổi về cơ bản.
Đối với các cuộc đấu giá năm 2024 đối với phổ tần 2,6 GHz và 3,5 GHz – tần số dải trung cốt lõi cần thiết cho 5G – giá khởi điểm đã giảm tới 90% so với nỗ lực năm 2023. Cả ba nhà khai thác lớn (viettel, VNPT, MobiFone) đều đảm bảo tần số 100 MHz. Phiên đấu giá 700 MHz tiếp theo vào tháng 5 năm 2025 vẫn duy trì phương pháp định giá phải chăng.
Nhưng Hà Nội đã bổ sung cơ chế thứ hai để phân biệt cơ chế này với việc giảm giá đơn giản: hoàn trả 15% chi phí thiết bị truy cập vô tuyến cho bất kỳ nhà mạng nào triển khai 20.000 trạm gốc 5G vào cuối năm 2025. Điều quan trọng là khoản trợ cấp được giới hạn ở doanh thu đấu giá – nghĩa là số tiền thu được từ phổ tần sẽ được tái sử dụng vào cơ sở hạ tầng chứ không được đưa vào ngân sách chung.
Julian Gorman, Giám đốc khu vực Châu Á Thái Bình Dương của GSMA, cho biết: “Điều này liên kết trực tiếp số tiền thu được từ phổ tần với việc mở rộng cơ sở hạ tầng”. Tech Wire Châu Á. “Cách tiếp cận của Việt Nam cung cấp một bài học rõ ràng: thiết lập giá dự trữ đấu giá một cách thận trọng, đưa ra các biện pháp khuyến khích để hỗ trợ các yêu cầu xây dựng và đưa cải cách phổ tần vào chương trình nghị sự chính sách kỹ thuật số ủng hộ đổi mới rộng rãi hơn.”
Mục tiêu trợ cấp đã được vượt quá. Viettel đã triển khai 30.000 trạm gốc vào tháng 12 năm 2025, đạt mức phủ sóng 90% dân số và báo cáo hơn 5 triệu thuê bao 5G trong những tháng ra mắt thương mại. VNPT đã vượt mốc 3 triệu thuê bao trên lộ trình triển khai tương tự. MobiFone, ra mắt dịch vụ thương mại vào tháng 3 năm 2025, đang mở rộng quy mô nhanh chóng.
Quốc hội Việt Nam đã củng cố định hướng chính sách vào tháng 6 năm 2025 bằng việc thông qua Luật Công nghiệp Công nghệ Kỹ thuật số, được cho là luật đầu tiên trên thế giới quy định cụ thể viễn thông là một ngành. Có hiệu lực từ tháng 1 năm 2026, nó cung cấp các khoản giảm thuế, miễn thuế và khuyến khích R&D cho mạng 5G, trung tâm dữ liệu và sản xuất thiết bị viễn thông.

Bẫy định giá phổ tần
Thí nghiệm của Việt Nam diễn ra khi các cơ quan quản lý châu Á-Thái Bình Dương phải đối mặt với nhiều bằng chứng cho thấy chiến lược định giá phổ tần của họ đang phản tác dụng. Dữ liệu của GSMA Intelligence cho thấy chi phí phổ tần khu vực trong tỷ trọng doanh thu của nhà khai thác đã tăng gấp ba lần trong thập kỷ qua – từ 3% năm 2014 lên 9% vào năm 2023, cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu 7,4%.

Indonesia và Thái Lan đã vượt qua mức 10%. Gánh nặng tài chính không phải là trừu tượng: Phân tích của GSMA chứng minh rằng chi phí phổ tần cứ tăng 10 điểm phần trăm sẽ tương ứng với mức độ phủ sóng mạng thấp hơn 6 điểm phần trăm và tốc độ chậm hơn 8%. Ở những thị trường theo đuổi doanh thu đấu giá hàng tỷ đô la, người dân đang phải trả giá do khả năng kết nối kém hơn.
Số học rất đơn giản nhưng lại không thoải mái về mặt chính trị. Theo GSMA Intelligence, kết nối di động đã đóng góp 950 tỷ USD vào GDP châu Á-Thái Bình Dương vào năm 2024 (5,6% sản lượng khu vực), dự kiến đạt 1,4 nghìn tỷ USD vào năm 2030.
Tuy nhiên, khu vực này phải đối mặt với khoản thiếu hụt đầu tư cơ sở hạ tầng trị giá 200 tỷ USD cho đến cuối thập kỷ này – khoảng cách mà chi phí phổ tần quá cao sẽ trực tiếp làm trầm trọng thêm bằng cách chuyển vốn từ việc triển khai mạng sang kho bạc của chính phủ.
Gorman lưu ý: “Phí phổ tần cao ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư vào kết nối”. “Phổ tần trước tiên phải được coi trọng như một công cụ hỗ trợ kết nối kỹ thuật số chứ không phải như một nguồn doanh thu ngắn hạn.”

Tuyên bố này nghe có vẻ hiển nhiên cho đến khi bạn xem xét các cuộc đấu giá sắp tới. Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan và Thái Lan đều đang chuẩn bị phân bổ hoặc gia hạn phổ tần trong 12-24 tháng tới. Việc Indonesia liên tục trì hoãn đấu giá băng tần 700 MHz và việc phân bổ băng tần 3,5 GHz của Thái Lan sẽ báo hiệu liệu cách tiếp cận của Việt Nam có thu hút được sự chú ý hay vẫn là một ngoại lệ được ca ngợi trong các báo cáo của ngành nhưng lại bị các cơ quan ngân sách bỏ qua.
Tình hình của Pakistan đặc biệt mang tính hướng dẫn: quốc gia này có phổ tần IMT được chỉ định thấp nhất ở châu Á-Thái Bình Dương, với khuôn khổ đấu giá 5G đa băng tần được hoàn tất vào tháng 5 năm 2025 nhưng bị trì hoãn do các vấn đề sáp nhập nhà khai thác và kiện tụng cấp phép. Khi tiến hành, các quyết định về giá dự trữ sẽ trực tiếp xác định liệu Pakistan có đi theo mô hình ưu tiên cơ sở hạ tầng của Việt Nam hay tăng gấp đôi việc khai thác doanh thu.
Mô hình của Việt Nam yêu cầu gì
Gorman đã phác thảo ba cơ chế chính sách mà Việt Nam thể hiện và các cuộc đấu giá sắp tới nên xem xét: định giá phổ tần hợp lý ưu tiên đầu tư mạng bền vững hơn là tối đa hóa doanh thu; lộ trình phổ dài hạn trong các dải tần để mang lại sự chắc chắn cho đầu tư; và các mục tiêu phủ sóng kết hợp với các ưu đãi tài chính để đảm bảo phổ tần được chuyển thành triển khai thực tế.
Yếu tố thứ ba là mô hình trợ cấp của Việt Nam khác với các nhiệm vụ cơ sở hạ tầng thông thường. Thay vì áp đặt nghĩa vụ bảo hiểm như điều kiện cấp phép – một cách tiếp cận phổ biến mà các nhà khai thác đôi khi lợi dụng sự tuân thủ tối thiểu – Việt Nam đã gắn việc hoàn trả tài chính với các mốc triển khai có thể kiểm chứng được.
Ngưỡng 20.000 trạm gốc không mang tính biểu tượng; nó đại diện cho mật độ cơ sở hạ tầng cần thiết để phủ sóng toàn quốc một cách có ý nghĩa. Liệu mô hình đó có áp dụng được ngoài bối cảnh cụ thể của Việt Nam hay không vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Hệ thống quản lý tập trung của đất nước đã cho phép ARFM chuyển hướng nhanh chóng từ thất bại trong đấu giá sang thiết kế lại chính sách – một điều xa xỉ mà thị trường có cơ cấu quyền lực phân tán hoặc kỳ vọng về doanh thu cố định của các bộ có thể không có được.
Ngoài ra còn có thực tế tài chính: Chính phủ Việt Nam chấp nhận doanh thu đấu giá trả trước thấp hơn để đổi lấy việc triển khai cơ sở hạ tầng nhanh hơn. Phép tính đó có hiệu quả khi các nhà hoạch định kinh tế đánh giá cao sự đóng góp của cơ sở hạ tầng kỹ thuật số vào tăng trưởng GDP so với việc bơm ngân sách ngay lập tức. Không phải tất cả các bộ tài chính đều có chung quan điểm đó, đặc biệt là những bộ phải đối mặt với áp lực tài chính ngắn hạn.
Ngoài phổ: kiếm tiền sau khi triển khai
Việc triển khai 5G nhanh chóng của Việt Nam đã giúp nhà mạng đa dạng hóa doanh thu. Cả ba nhà mạng Việt Nam đều tham gia sáng kiến Cổng mở GSMA vào tháng 4 năm 2025, triển khai các API mạng bao gồm khả năng Hoán đổi SIM và Xác minh số cho phép các ngân hàng và nền tảng thương mại điện tử tiến hành xác thực theo thời gian thực.
Trọng tâm bảo mật đáp ứng nhu cầu thực sự của thị trường – Nghiên cứu do GSMA ủy quyền cho thấy 89% người tiêu dùng Việt Nam lo ngại về việc bị hack tài khoản và vi phạm dữ liệu. API bảo mật cấp độ mạng bổ sung một lớp bảo vệ bổ sung cho việc giáo dục người tiêu dùng và thực thi pháp luật, mang lại cho các nhà khai thác nguồn doanh thu ngoài khả năng kết nối cơ bản.
Truy cập không dây cố định (FWA) dành cho băng thông rộng tại nhà, mạng doanh nghiệp tư nhân dành cho sản xuất và hậu cần cũng như các dịch vụ đám mây biên dành cho các ứng dụng có độ trễ thấp cũng đang thu hút được sự chú ý. Điểm chung là các mô hình kiếm tiền cần có cơ sở hạ tầng 5G mạnh mẽ và rộng khắp làm nền tảng – chính xác là những gì chính sách định giá phổ tần của Việt Nam đã hỗ trợ.
Việt Nam cũng đang định vị cho chu kỳ công nghệ tiếp theo. Quốc gia này đã đưa thêm phổ tần 3,5 GHz, 4,8 GHz và trên 6 GHz vào lộ trình quốc gia trước Hội nghị Thông tin Vô tuyến Thế giới 2027 (WRC-27), nơi sẽ đánh giá các dải tần 4,5 GHz và 6-8 GHz để nhận dạng di động.
Phân tích của GSMA cho thấy các quốc gia sẽ cần phổ tần trung băng tần 2-3 GHz cho mỗi nhà khai thác để đáp ứng nhu cầu dung lượng trong kỷ nguyên 6G.
Câu hỏi nhân bản
Việc Indonesia, Pakistan hay Bangladesh tiếp bước Việt Nam khi tiến hành đấu giá sẽ cho thấy mức độ nghiêm túc của các chính phủ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật số so với doanh thu ngân sách. Sự đánh đổi về mặt chính sách là có thật: Chính phủ Việt Nam chấp nhận số tiền đấu giá ngay lập tức thấp hơn để đổi lấy việc triển khai mạng nhanh hơn và các hiệu ứng cấp số nhân kinh tế kéo theo.
Tính toán đó đòi hỏi các bộ tài chính phải đánh giá sự đóng góp dài hạn của cơ sở hạ tầng vào GDP so với việc khai thác tiền mặt ngắn hạn – một viễn cảnh mà áp lực ngân sách và chu kỳ chính trị thường lấn át. Cơ chế ra quyết định tập trung của Việt Nam cũng cho phép thay đổi chính sách nhanh chóng mà các hệ thống quản lý rời rạc có thể gặp khó khăn trong việc nhân rộng.
Nhưng kết quả triển khai rất khó để bác bỏ. Ba mươi nghìn trạm gốc 5G và độ bao phủ 90% dân số trong 12 tháng thể hiện tốc độ cơ sở hạ tầng mà các phương pháp tối đa hóa doanh thu đã không đạt được ở những nơi khác trong khu vực.
Khi đóng góp của kết nối di động vào GDP khu vực Châu Á Thái Bình Dương hướng tới 1,4 nghìn tỷ USD vào năm 2030, chi phí do thực hiện sai chính sách phổ tần – được đo bằng khoảng cách phủ sóng, tốc độ chậm hơn và hoạt động kinh tế bị bỏ qua – sẽ tăng lên hàng năm.
Việc giảm 90% phổ tần của Việt Nam không phải là một chính sách viễn thông thông thường. Tuy nhiên, tốc độ phản hồi của các nhà khai thác với việc triển khai cơ sở hạ tầng thực tế cho thấy đây có thể là một chính sách hiệu quả.

Bạn muốn trải nghiệm toàn bộ quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp? Tham gia TechEx ở Amsterdam, California và London. Bao gồm AI, Dữ liệu lớn, An ninh mạng, IoT, Chuyển đổi kỹ thuật số, Tự động hóa thông minh, Điện toán biên và Trung tâm dữ liệu, TechEx tập hợp các nhà lãnh đạo toàn cầu để chia sẻ các trường hợp sử dụng trong thế giới thực và hiểu biết sâu sắc. Bấm vào đây để biết thêm thông tin.
Tech Wire Asia được cung cấp bởi TechForge Media. Khám phá các sự kiện và hội thảo trực tuyến về công nghệ doanh nghiệp sắp tới khác tại đây.



